Thứ Hai, 2 tháng 7, 2012

Phân tích tác phẩm: Đôi mắt - Nam Cao


Phân tích tác phẩm: Đôi mắt - Nam Cao


Xem bài phân tích khác 

Mùa thu năm 1947, Nam Cao lên Việt Bắc. Ông là thư ký tòa soạn báo Cứu quốc Việt Bắc, viết Nhật ký ở rừng. Tại chiến khu, Nam Cao gia nhập Đảng. Từ đây, với cảm quan mới, Nam Cao hăng hái tham gia công tác văn hóa, văn nghệ và báo chí cứu quốc, hòa mình vào cuộc kháng hiến vĩ đại của dân tộc. Khiêm tốn, giản dị, chân thành, nhà văn không nề hà, không ngại khó, hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ được tổ chức phân công. Các tác phẩm "kịp thời" của ông bắt ngay vào việc tuyên truyền cổ vũ, động viên chiến sĩ, cán bộ đồng bào trong địch hậu, ngoài tiền tuyến, trong đó truyện ngắn Đôi mắt được xem như một tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn dứt khoát với cái cũ, hào hứng, tin tưởng trên con đường lớn của dân tộc, của đất nước


“Mấy ngày nghỉ Tết, tồi dùng để viết một truyện ngắn cho đỡ nhớ. Truyện Tiên sư thằng Tào Tháo ! Nhưng sau tôi đặt cho nó một cái tên giản dị và đứng đắn : Đôi mắt”.


Đấy là tất cả những gì mà Nam cao đã viết về Đôi mắt trong cuốn nhật kí mà ông vẫn ghi khá đều đặn và kĩ lưỡng trong mấy tháng ở rừng. Chỉ vẻn vẹn chưa đầy ba dòng chữ, không hơn. Trong khi cũng ở ngày 2-3-1948 ấy, nhà văn lại dành nhiều giấy mực và rất nhiều sự thiết tha để nói về những lí do đã khiến ông phải dằn lòng gác lại ý định làm cuốn tiểu thuyết lớn mà ông vẫn thường xuyên trăn trở.


Có nghĩa rằng Nam cao đã không hề coi Đôi mắt là “ cái tác phẩm mơ ước” của đời mình. Và rất có thể chính nam Cao cũng đã không tiên lịệu được rằng cái truyện ngắn được ông viết để cho đỡ nhớ kia rồi sẽ thuộc vào số rất hiếm các tác phẩm văn xuôi thời ấy mà giá trị, như những năm sau này cho thấy, không bị nhạt phai đi với thời gian.


Nhưng thật sự lại đúng là như thế. Những trang văn Nam Cao viết trong mấy ngày Tết ấy sẽ còn mãi để cùng với bao thế hệ bạn đọc phát hịên, suy ngẫm về những ý nghĩa sâu sắc, lớn lao của nghệ thuật – mà cũng không chỉ riêng gì nghệ thuật... Những trang văn ấy còn mãi, còn là để cho chúng ta thêm dịp ngưỡng mộ một tài năng truyện ngắn bậc thầy.


Đôi mắt phê phán cách nhìn đời, nhìn người lệch lạc, khinh miệt, lối sống ích kỷ và bàng quan của một trí thức đối với kháng chiến, đồng thời biểu dương một lớp trí thức, văn nghệ sĩ có một cái tâm đẹp, gắn bó với nhân dân, tích cực tham gia sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Đôi mắt thể hiện cách nhìn và thái độ của người trí thức đối với nông dân và kháng chiến.


Nam Cao, như thường lệ, vào truyện rất nhanh. Bỏ qua bằng hết những chi tiết thừa, những điều vụn vặt, hòan toàn không cần đến lối kể đủ ngành ngọn, đủ đầu đuôi, nhà văn chỉ bằng một hai câu đã ngay lập tức đặt chúng ta trước ngôi nhà của nhân vật chính – văn sĩ Hoàng. Rồi cũng chỉ qua một hai câu nữa, ấn tượng đầu tiên về nhân vật đó đà nổi hẳn lên, qua một chi tiết đầy sức phát hiện: Đã đến nước phải rời Hà Nội tản cư về nông thôn sống nhờ dân mà một thói quen không hợp cảnh, không hợp thời đến như nuôi chó Tây trong nhà, anh ta cũng không sao bỏ được. Một con người vẫn cứ hệt như cũ, trong một hòan cảnh đã hòan tòan khác cũ.


Nhưng đó mới là khúc dạo đầu tiên, làm nên, làm nền để cho Hòang xúât hiện. Và tác giả đã cho nhân vật bước ra: một con người mới thạot trông đã thấy ứ đầy sự no nê, nhàn hạ, sự múp míp, phong lưu, nó khiến anh trở nên rất chướng trong hòan cảnh cả một dân tộc đang gian lao chiến đấu. Và cái cảm giác ấy đã được Nam Cao diễn tả một cách sắc sảo đến tinh quái, trong những lời văn thật giàu sức tạo khối tạo hình:


“Anh Hòang đi ra. Anh vẫn bước khệnh khạng, thong thả bởi vì người khí to béo quá, vừa bước vừa bơi cánh tay kềnh kệnh ra hai bên, những khối thịt ở hai bên dưới nách kềnh ra và trông tủn ngủn như ngắn quá”.


Xin hãy nhớ rằng những lời có khả năng làm người ta phải phát ngấy lên này, Nam Cao đã viết vào lúc đang sống với những bữa cơm rất nhiều khi chỉ có muối không, trên rừng, bên những người Tày, người Dao vất vả và đói rách...




Có thể nói, trên suốt chiều dài thiên truyện, Nam Cao không ngớt đưa ra những chi tiết rất đắt để miêu tả ngọai hình Hòang và đời sống vào lúc ấy đang là quá ư dư giả của nhà Hòang: nào là “một cái vành móng ngựa ria” đặc chất thị thành được Hoàng chăm nuôi đúng lúc anh ta đã rời thành thị, nào là cái thú ăn mía ướp hoa bưởi và ngủ trong những tấm chăn thoang thỏang nước hoa...


Có lẽ ở đây nên tránh một sự hiểu lầm. Một người như Nam Cao, tôi chắc không bao giờ lại thù nghịch với một nhu cầu chính đáng của con người – nhu cầu được sống trong sung sướng. Trong trường hợp này, nhà văn, theo tôi, chỉ muốn lí giải cái nguyên nhân đã sinh ra đôi mắt nhìn đời, nhìn người một phía của Hòang. Hãy nhớ đến cái ý của F.Coppée mà Nam Cao từ lâu đã tâm đắc: Người chỉ xấu xa trước đôi mắt của phường ích kỉ.


Phải chăng, Nam Cao đã đặt vào trung tâm truyện Đôi mắt này hình tượng của một kẻ xét cho cùng cũng thuộc vào phường ích kỉ, một kẻ mà sự ích kỉ đã cho phép anh ta yên tâm thỏa thuê sung sướng no đủ một mình giữa những tháng ngày gian khổ nhất củ cuộc kháng chiến toàn dân. Và đấy là một lí do, là một trong những lí do đã khiến dưới đôi mắt anh ta, con người hiện lên với chỉ tòan cái xấu.


Không khó khăn gì để thấy, quả thật, dưới đôi mắt và qua cửa miệng Hòang, đã hiện lên, và chỉ hiện lên, cả một danh sách dài những tật xấu của người dân kháng chiến: ngu độn, tham lam, bần tiện, thóc mách, rởm đời, và tệ nhất là đã ngố lại còn nhặng xị (đánh vần chưa xong mà lại thích đòi xét giấy, viết còn sai chữ quốc ngữ mà lại sính làm con vẹt lặp lại những từ chính trị cao siêu).Người dân chỉ có thể là như thế dưới mắt Hòang: và đấy là một định kiếng mà cho đến cuối cùng, không một nhân vật nào dám nghĩ đến việc làm thay đổi.


Nhưng xin đừng vội đơn gảin hóa Nam Cao. Nhà văn xây dựng nhân vật Hòang như một người chỉ nhìn được một phía của sự thật chứ không phải một kẻ cố ý nói sai sự thật. Có thể tin rằng Hòang chân thực trong việc kể lại những gì mình quan sát được. Anh ta cam đoan tới hai lần:” Tôi có bịa một tí nào, tôi chết”. Và cũng xin để ý điều này: không một nhân vật nào, ngay cả Độ - người có thể coi như một hóa thân của chính Nam Cao – thấy ngờ vực về những điều Hòang kể. Độ có thể không đồng tình với thái độ không đồng tình của Hòang, có thể cắt nghĩa khác đi về những hiện tượng mà Hòangđã nêu ra, nhưng Độ chưa hề một lần hòai nghi rằng những hiện tượng như Hòang đã thấy là không thể có. Đấy là chưa nói rằng, có lúc Độ còn góp thêm vào câu chuyện của Hòang những hiện tượng tương tự thế về những nhược điểm của quần chúng, với một giọng điệu không phải hòan tòan xa lạ so với giọng điệu của Hòang:” Vô số anh răng đen, mắt tóet, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh...”. Nếu không có thêm những lời giải thích ở phía sau, thì một lối nói thế này, riêng nó thôi, kể cũng dễ bị lầm cho là của chính nhân vật Hòang.


Hòang nhìn đời, nhìn người theo một phía. Nhưng ở riêng cái phía ấy thì Hòang lại rất biết nhìn, và càng rất biết diễn tả một cách sắc sảo những gì nhìn thấy. Hầu như không bao giờ anh ta chịu dừng ở những nhận xét chung chung. Ngược lại, nhà văn ấy – không phải tình cờ mà Nam Cao đã xây dựng nhân vật Hòang là một nhà văn – luôn luôn biết làm sống động những nhận xét của mình bằng những câu chuyện kể đầy ý vị. Xin thử lấy ra đây một trong rất nhiều ví dụ. Hòang phàn nàn với Độ về việc người dân quê, theo Hòang, cứ hay nấp nom chú ý một cách vô lối tới những người ở xung quanh. Một nhận xét như thế chắc sẽ không có gì đặc biệt hấp dẫn nếu không có những câu tiếp theo sau:


“Này, anh mới đến chơi thế mà lúc nãy tôi đã thấy có người nấp nom rồi. Ngày mai thế nào chuyện anh đến chơi tôi cũng đã chạy khắp làng. Họ sẽ kể rất rạch ròi tên anh, tuổi anh, anh gầy béo thế nào, có bao nhiêu nốt ruồi ở mặt, có mấy lỗ rách ở ống quần bên trái”.


Cái đáo để của Hòang, mà cũng là cái ghê gớm ở ngòi bút văn xuôi của Nam Cao lại chính là cái khả năng biết nhìn ra cái không mấy ai nhìn thấy. Khả năng nhận thấy cái bản chất nó bộc lộ ra tận kẽ tóc chân tơ ở chính những chỗ tưởng như chẳng đáng kể gì hết cả: những nốt ruồi, mấy cái lỗ rách, mà lại cụ thể đến mức là lỗ rách ở ống quần bên trái ! Chẳng khác nào M.Gocki và I.Bunin trước kia đã từng phát hiện ra đúng thực chất của một kẻ lạ trong quán rượu nhờ không chỉ vào vẻ mặt xanh xám, mà còn từ lọai cà vạt và chiếc cổ áo nhàu...

ST

Những nét chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám


NHỮNG NÉT CHÍNH TRONG QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA NAM CAO TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM



Nam Cao là một nhà văn lớn của nền văn học hiện thực phê phán nói riêng và là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam nói chung. Sở dĩ Nam Cao có một vị trí xứng đáng như vậy bởi cả cuộc đời cầm bút của mình, ông luôn trăn trở để nâng cao "Đôi Mắt" của mình. Tất cả những gì Nam Cao để lại cho cuộc đời chính là tấm gương của một người "trí thức trung thực vô ngần" luôn tự đấu tranh để vươn tới những cảnh sống và tâm hồn thật đẹp. Với những nét tiêu biểu như vậy, Nam Cao đã thể hiện qua một hệ thống các quan điểm sáng tác của mình trước cách mạng tháng Tám.

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám được thể hiện qua "Trăng Sáng" và "Đời Thừa". Trong "Trăng Sáng", nhà văn quan niệm văn chương nghệ thuật phải "vị nhân sinh", nhà văn phải viết cho hay, cho chân thực những gì có thật giữa cuộc đời, giữa xã hội mà mình đang sống. Ông viết "Chao ôi! Nghệ thuật không là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than". Đó chính là quan điểm nghệ thuật của Nam Cao. Trước cách mạng, Nam Cao mang tâm sự u uất, đó không chỉ là tâm trạng của một người nghệ sĩ "tài cao, phận thấp, chí khí uất" (Tản Đà) mà đó còn là tâm sự của người người trí thức giàu tâm huyết nhưng lại bị xã hội đen tối bóp nghẹt sự sống. Nhưng Nam Cao không vì bất mãn cá nhân mà ông trở nên khinh bạc. Trái lại ông còn có một trái tim chan chứa yêu thương đối với người dân nghèo lam lũ. Chính vì lẽ đó mà văn chương của ông luôn cất lên "những tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than".

Trong "Đời thừa", một tác phẩm tiêu biểu của văn Nam Cao trước cách mạng, Nam Cao cũng có những quan điểm nghệ thuật. Khi mà ta đã chọn văn chương nghệ thuật làm nghiệp của mình thì ta phải dồn hết tâm huyết cho nó, có như thế mới làm nghệ thuật tốt được. "Đói rét không có nghĩa lý gì đối với gã tuổi trẻ say mê lý tưởng. Lòng hắn đẹp. Đầu hắn mang một hoài bão lớn. Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất. Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày một thêm nảy nở. Hắn đọc, suy ngẫm, tìm tòi, nhận xét, suy tưởng không biết chán. Đối với hắn lúc ấy nghề thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không có gì đáng quan tâm nữa...". Nam Cao còn quan niệm người cầm bút phải có lương tâm và trách nhiệm đối với bạn đọc, phải viết thận trọng và sâu sắc: "sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi, còn sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện". Với Nam Cao, bản chất của văn chương là đồng nghĩa với sự sáng tạo "văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có". Quan điểm của Nam Cao là một tác phẩm văn chương đích thực phải góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc: Nó phải chứa đựng một cái gì đó vừa lớn lao vừa cao cả, vừa đau đớn vừa phấn khởi: "Nó ca ngợi tình thương, lòng bác ái, sự công bình, nó làm người gần người hơn".

Văn nghiệp của Nam Cao (1915-1951) chủ yếu được thể hiện trước cách mạng tháng Tám. Với quan điểm sáng tác thể hiện trong hai truyện "Trăng Sáng" và "Đời Thừa" giúp ta hiểu sâu hơn về Nam Cao. Qua đó, ta thấy được những đóng góp về nghệ thuật cũng như tư tưởng của Nam Cao cho văn học Việt Nam. Từ đấy giúp ta hiểu vì sao Nam Cao - một nhà văn chưa tròn bốn mươi tuổi lại để lại cho cuộc đời một sự nghiệp văn chương vĩ đại đến như vậy.



Bài viết sưu tầm

Nói thêm về “Đôi mắt” của Nam Cao


Nói thêm về “Đôi mắt” của Nam Cao


1. Không thuộc vào hàng những kiệt tác của Nam Cao, nhưng Đôi mắt vẫn là sáng tác xuất sắc của ông sau cách mạng. Và so với "mặt bằng" truyện ngắn đương thời, thì nó vẫn cứ là một cái đỉnh. Có lẽ vì thế mà kể từ độ vừa ra đời cho đến nay, bước sang thế kỷ mới rồi, nó vẫn cứ làm nóng dư luận. Mà xem ra, mọi tranh cãi vẫn là từ cái anh chàng văn sĩ Hoàng ấy. Tôi không nhằm nói tới cái việc đồng nhất anh ta với nguyên mẫu. Đấy là một sai lầm "lịch sử" khiến Hoàng nghiễm nhiên thành cái bóng đè lên thanh danh nhà văn Vũ Bằng mà phải đến cuối thế kỷ trước mới hóa giải được1. Điều tôi muốn đề cập ở đây là cách hiểu khác nhau về thực chất của Hoàng và ý đồ nghệ thuật của Nam Cao. Nhìn lướt thì ý kiến chia làm hai thời kỳ. Trước đổi mới, xem chừng khá thống nhất. Người ta vẫn thấy Hoàng thuần là phản diện, và thái độ của Nam Cao với nhân vật này là phê phán, lên án. Tuy rằng chưa phải việc hiểu đã tới độ cần thiết. Nhưng kể từ đổi mới trở đi, bắt đầu thấy nảy ra loại ý kiến cho rằng: người đọc đã quá khắt khe với Hoàng, thái độ Nam Cao không gay gắt đến thế. Và thậm chí, có vẻ như Nam Cao còn khắc họa Hoàng như một trí thức tỉnh táo, đã thấy trước những hạn chế của người nông dân đi làm cách mạng vào giữa lúc quần chúng đang lên ngôi; nên đã coi Hoàng như một thứ tiên tri đi trước thời đại.

Xem ra, xung quanh truyện Đôi mắt của Nam Cao, tồn tại cả "vấn đề đôi mắt" của bản thân người đọc nữa thì phải!
Chả biết, cái ý kiến "cấp tiến" nhân luồng gió đổi mới này có "tiến" được "cấp" nào không, mà thấy bất chấp cả những nguyên tắc tối thiểu của việc tiếp nhận nghệ thuật. Trước hết là nguyên tắc lịch sử. Đó là gán cái nhìn của ngày hôm nay cho một tác phẩm quá khứ. Bấy giờ, cuộc cách mạng tháng Tám đã tạo ra một sự đổi thay ghê gớm. Nhiệt tình bỏng cháy và niềm tin đơn giản thường khiến người ta nhảy từ cực đoan này sang cực đoan khác. Trí thức bấy giờ đều muốn đoạn tuyệt hoàn toàn với "con người cũ" của mình, đều kiên quyết "lột xác". Thấy mình có lỗi với quần chúng, lạc lõng trước nhân dân, lạc loài trước dân tộc. Nhất nhất đều lấy quần chúng ra để làm mẫu, làm gương. Chỉ có quần chúng là vĩ đại, là vạn đại.… Tất cả đều thành tâm, thành kính, hồ hởi. Tuyệt nhiên chưa có chỗ để đặt những dấu hỏi cho hoài nghi hay xét lại. Như tuyệt đại đa số văn nghệ sĩ trí thức đương thời, Nam Cao cũng không là ngoại lệ. Điều ấy có hiện ra ngay cả trong truyện ngắn này chứ không phải đâu xa. Cứ đọc lại cái đoạn Độ ngẫm nghĩ về đôi mắt của Hoàng trong đối sánh với toàn bộ thời buổi kháng chiến bấy giờ thì khắc biết. Tức là Nam Cao đã viết Đôi mắt bằng nhận thức đương thời, bằng niềm tin đương thời. Trong cái tâm thành đến mức ngây thơ kia của Nam Cao, làm gì đã có chỗ cho một chút hoài nghi nào, dù chỉ là thoáng qua, nói gì đến cái gọi là sự tỉnh táo đi trước thời đại từa tựa như là xét lại đó. Nhìn ra những méo mó của cuộc đời là bởi đôi mắt ráo hoảnh của Hoàng, chứ quyết không phải bởi tiên cảm nhạy bén thuộc năng lực tiên tri của Hoàng. Đó là hai nguyên ủyhoàn toàn khác nhau, gắn với hai bản chất khác nhau. Chả nên đánh đồng. Đánh đồng là ngộ nhận, là làm hại chứ đâu phải làm sang gì cho Nam Cao. Tự thân tư tưởng Nam Cao đã đủ vĩ đại rồi. Ông không cần đến sự làm sang vô lối nào nữa đâu.

Ý tưởng "cấp tiến" kia cũng không đếm xỉa gì đến mối liên hệ mật thiết giữa các sáng tác cùng thời của cùng tác giả. Truyện ngắn Đôi mắt được viết gần như cùng thời điểm với Nhật ký ở rừng. Nếu nhật ký là nơi bộc lộ khá trực tiếp những suy tư và ý đồ nghệ thuật, thì truyện ngắn là chỗ các ý đồ kia đã hoá thân thành hình tượng sống động. Ai cũng biết trong Nhật ký ở rừng, Nam Cao có nói đến một loại người mà ông gọi là những tên "bố vấu", chúng là những trí thức nửa mùa, với những biểu hiện: không yêu một cái gì, không làm việc gì, chúng chỉ giỏi chửi đổng. Có thể nói một trong những tên "bố vấu" như thế đã hóa thân thành Hoàng. Tiếp nhận nhân vật Hoàng không thể cắt lìa khỏi mối liên hệ gần gũi và thống nhất đó.

Tuy nhiên, những nguyên tắc trên bị vi phạm cũng chưa thật đáng ngại lắm. Loại ý kiến "cấp tiến" kia còn bất chấp một nguyên tắc quan trọng hơn của việc cảm thụ nghệ thuật đó là hiểu nhân vật thoát ly khỏi cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm. Không ai không thấy rằng Đôi mắt là truyện ngắn ít nhiều có tính luận đề. Luận đề bao trùm chính là Đôi mắt. Nghĩa là cách nhìn người nhìn đời. Luận đề ấy được hiện hình rất sắc nét nhờ một tình huống truyện đặc sắc. Toàn bộ truyện ngắn này xoay quanh một tình huống chủ chốt: cuộc gặp gỡ vừa thân thiện vừa gượng gạo của hai nhà văn vốn là bạn viết của nhau, nhưng bây giờ đã rất khác nhau về lối sống, chỗ đứng và cách nghĩ, đó là Hoàng và Độ. Cuộc gặp gỡ như thế đã quyết định đến tính đối thoại trong cấu trúc tác phẩm. Đôi mắt là cuộc đối thoại giữa hai nhân vật - hai nhà văn - hai tư tưởng… mà tựu trung là cuộc đối thoại của hai "đôi mắt". Cuộc gặp gỡ và tính chất đối thoại như thế cũng quyết định đến kiểu nhân vật của truyện ngắn này: tuy cũng được mô tả khá đầy đủ từ lai lịch đến ngoại hình, từ hành động đến ngôn ngữ, nhưng về căn bản, hai nhân vật chính trong câu chuyện này nghiêng về kiểu nhân vật tư tưởng. Đúng thế, tư tưởng mới là cốt lõi của họ, những bình diện khác được đề cập hầu như chỉ nhằm lý giải cho tư tưởng của họ mà thôi. Nếu không sợ cực đoan, có thể khẳng định: Hoàng và Độ là hai tư tưởng, hai "đôi mắt" được nhân vật hóa. Nhìn sâu hơn, cuộc gặp gỡ và tính chất đối thoại đó cũng quyết định đến một nguyên tắc nghệ thuật chủ đạo chi phối việc khắc họa cặp hình tượng: đối lập tương phản. Độ là chính đề Đôi mắt thì Hoàng là phản đề Đôi mắt. Nếu Độ là người được đề cao, thì Hoàng là kẻ bị lên án. Đúng theo cung cách của chính diện và phản diện, ánh sáng và bóng tối. Thậm chí, ở một số điểm, nếu nắm được người này thì sẽ suy ra được người kia, theo lối tương phản. Trong Đôi mắt, nhân vật này chỉ thực sự tồn tại khi song hành với nhân vật kia. Có lẽ, chưa ý thức thật đúng mức về điều ấy, nên việc hiểu Hoàng còn không ít hạn chế.

2. Tuy nhiên, bài này được viết ra không nhằm tranh luận với các ý kiến "cấp tiến" nọ. Tôi muốn nói đến một việc khác thuộc về nghệ thuật bậc thầy của Nam Cao : việc dựng nhân vật Hoàng. Cố nhiên, tôi cũng không định nói đến lối dùng đồ vật và loài vật để khắc họa nhân vật. Đành rằng, việc mô tả Hoàng gắn liền với thế giới tiện nghi sang trọng và con chó becgiê, giữa những ngày tản cư kháng chiến kham khổ, là một thủ pháp đặc sắc của Nam Cao. Quả là, những tiện nghi và con becgiê kia đã tố cáo về bản chất ích kỷ và triết lí hưởng thụ tệ hại ở chủ nhân của chúng. Song, cái tôi muốn đề cập nhiều hơn vẫn là chuyện khác: chuyện ngôn ngữ nhân vật. Phải, nhiều khi ta bỏ qua, hay chừng mực hơn, ta chưa chú ý đúng mức đến ngôn ngữ nhân vật nên đã hiểu nhân vật chưa thật đến nơi. Ai cũng biết, ngôn ngữ nhân vật là một phương tiện hết sức đắc dụng để nhà văn khắc họa nhân vật. Dùng thành công thì lời nhân vật chính là một bức chân dung tự họa sắc nét về bản thân nhân vật. Trường hợp Hoàng là như vậy. Tiếc rằng, nó chưa được quan tâm thật đúng mức. Hoàng là một nhà văn. Trước đến nay, người đọc, người nghiên cứu vẫn chưa chú ý đầy đủ tới khía cạnh nhà văn trong ngôn ngữ Hoàng.

Đặc điểm của thứ ngôn ngữ ấy là gì? Trong trường hợp này, nổi lên mấy khía cạnh chính: khái quát từ chi tiết rồi cường điệu lên để mặc nhiên xem chi tiết thuộc hiện tượng là bản chất, cố chấp về chữ nghĩa, đặc biệt hơn, thường có hai tầng hiển ngôn và hàm ngôn. Mà hiển ngôn chỉ là đưa đẩy mua vui, hàm ngôn mới là bụng dạ thực. Lâu nay, đọc lời Hoàng, ta mới chỉ nghiêng về tầng hiển ngôn mà bỏ qua rất nhiều tầng hàm ngôn. Hãy đơn cử một ví dụ. Khi được hỏi thăm về chuyện sáng tác, Hoàng trả lời : "…Nhưng thế nào chúng mình cũng phải viết một cái gì đó để ghi lại cái thời này. Nếu khéo làm thì còn có thể hay bằng mấy cái "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng. Phụng nó còn sống đến lúc này thì phải biết!". Đoạn thoại này rất tiêu biểu cho ngôn ngữ của Hoàng. Tầng hiển ngôn chỉ là trình bày một quyết tâm, một dự định sáng tác và tỏ ý tiếc thay cho bạn văn không còn sống. Nhưng còn tầng hàm ngôn là những hàm ý, ẩn ý gắn với nội dung của "Số đỏ" và tài trào phúng của Vũ Trọng Phụng. Nó chứa đựng thâm ý nào đây ? Trước hết, nó thể hiện quan niệm của Hoàng về cái thời ấy: té ra Hoàng coi cái thời buổi kháng chiến với những anh thanh niên vác bó tre, các ông dân quân, các bố tự vệ kia là nguồn nguyên liệu lý tưởng cho tài năng trào phúng kiểu như Vũ Trọng Phụng tha hồ mà tung hoành. Nghĩa là cái thời buổi nhố nhăng, vô nghĩa lý, một tấn đại hài kịch. Hơn nữa, nếu Hoàng sáng tác thì sẽ viết như Vũ Trọng Phụng viết "Số đỏ". Nghĩa là sẽ mang những con người kia ra để làm trò cười, để chế giễu, nhạo báng, lố bịch hóa… Rõ ràng thái độ và nhận thức chính của Hoàng được gửi phần lớn vào tầng ngầm của mỗi phát ngôn.

Cần chú ý đến tầng hàm ngôn, vô ngôn, đấy chính là một mã khóa giúp ta hiểu thực chất tư tưởng và thái độ của Hoàng.

Lần này đến thăm Hoàng, mục đích của Độ là muốn tìm hiểu xem Hoàng đã có gì thay đổi chưa, nếu đã, thì sẽ vận động anh ta tham gia hoạt động cách mạng như mình. Trong những thay đổi, thì quan trọng nhất là tư tưởng. Bấy giờ là thời buổi kháng chiến, nên điều cốt yếu trong tư tưởng chính là nhận thức về đời sống kháng chiến. Hai đối tượng căn bản làm nên đời sống kháng chiến lúc này không phải ai khác hơn là quần chúng và lãnh tụ. Trong mắt Hoàng, cả hai đối tượng này đều là những hình ảnh méo mó, mỗi đằng méo mó theo một kiểu. Quần chúng méo mó bởi miệt thị. Lãnh tụ méo mó bởi sùng bái dễ dãi vô lối.

Trong cái nhìn của Hoàng, quần chúng chỉ là một đám đông hiện ra với mấy "phẩm chất": ngu dốt, tàn nhẫn, ngố và nhặng xị. Ngu đến mức nào? đến chỉ đường cũng không biết cách. Anh thanh niên vác bó tre rõ ràng là thuộc làu con đường lên chợ Huyện, giờ chỉ diễn đạt cho người khác hiểu mà không làm nổi, càng cố diễn đạt càng rối rắm, như tung hỏa mù, người nghe chẳng còn biết đằng nào mà lần. Dẫn chứng ấy hàm ý gì? Đầu óc quần chúng thật thảm hại, cố hoạt động trí tuệ thì tối tăm, ngừng hoạt động trí tuệ thì may ra mới sáng sủa. Ngu đến mức nào nữa? Đến đọc một cái tên cũng không phân biệt được đàn ông đàn bà. "Ông chủ tịch làng này xem giấy của nhà tôi, thấy đề Nguyễn Thục Hiền, cứ nhất định bảo là giấy mượn của đàn ông. Theo ông ấy, thì đàn bà ai cũng phải thị này thị nọ". Không phải vô cớ mà Hoàng (Nam Cao thì đúng hơn) chọn cái tên này để ví dụ. Và cái ý thuộc hàm ngôn, vô ngôn ở đây là gì vậy? Đúng là, nếu tách ra thành "Thục" và "Hiền" thì từng tên ấy có thể đặt cả cho đàn ông lẫn phụ nữ. Nhưng khi ghép lại trong một tên "Thục Hiền" thì chỉ có thể là tên đặt riêng cho phụ nữ thôi. Một cái tên phụ nữ đến thế, một điều sơ đẳng đến thế cũng không biết, cũng có thể nhầm, thì ông nhà văn này thấy thật là ngu hết chịu nổi. Còn ngố thì thế nào? Thì như anh thanh niên vác bó tre. Riêng bó tre đã nặng quá rồi, lại loay hoay mãi mà không chỉ xong đường, nặng thêm bội phần rồi, cũng đã chào nhau để đi rồi, thế mà vẫn còn cứ nán lại đọc bài ba giai đoạn dài đến năm trang giấy. Thế là cực ngố còn gì. Nhưng đó mới chỉ là phía hiển ngôn thôi. Còn tầng hàm ngôn? Chỉ vẽ đường đất còn không nên hồn lại đi tuyên truyền đường lối! Lại nữa, anh là thằng mù chữ, là con vẹt biết nói mà lại dám tuyên truyền tôi là thằng trí thức. Thật là ngược đời, quái dị, thật là ngố hết chỗ nói. Cái ngụ ý ở tầng hàm ngôn như thế mới giải thích được vì sao Hoàng lại có sự khinh bỉ đến mức ấy: "Nỗi khinh bỉ của anh phì cả ra ngoài, theo cái bĩu môi dài thườn thượt. Mũi anh nhăn lại như ngửi thấy mùi xác thối" ! Và khiến anh sẵn sàngchọn lối ứng xử thà mang tiếng là phản động còn hơn là phải cộng tác với những người như vậy (!)

Tuy nhiên, ở phần nhận thức về quần chúng, việc quan tâm đến khía cạnh nhà văn trong ngôn ngữ của Hoàng cũng chưa giúp hiểu thêm anh ta được là bao. Đáng kể là ở nhận thức về lãnh tụ. Trước đến nay, do chưa chú ý đúng mức đến sắc thái này của ngôn ngữ Hoàng mà ta chưa hiểu thực chất về tình cảm cũng như nhận thức của anh ta đối với cụ Hồ. Chúng ta đều tưởng rằng với quần chúng Hoàng miệt thị, còn với lãnh tụ thì Hoàng tin sùng. Nhầm. Hoàng cũng chả yêu cụ Hồ thật sự, chả hiểu cụ Hồ thực sự.

Ngôn ngữ nhân vật đã tiết lộ điều đó.

Những lời tán dương dễ dãi khoa trương của Hoàng xuất phát từ một cái tâm không thật sáng. Tán dương cụ Hồ để thêm một lần nữa dùng lối đề cao một cá nhân mà phủ định đám đông quần chúng."Hồ Chí Minh đáng lẽ phải cứu vãn một nước như thế nào kia, mới xứng tài. Phải cứu một nước như nước mình kể cũng khổ cho ông Cụ lắm". Hoàng nói thế chẳng phải là hàm ý một nước toàn những người như đám quần chúng ngu dốt, ngố và nhặng xị kia không đáng có một lãnh tụ như Hồ Chí Minh. Làm lãnh tụ một nước như thế này thật phí tài cụ Hồ. Tán dương cụ Hồ còn nhằm che đậy thái độ thờ ơ vô trách nhiệm của mình trước sự nghiệp cứu nước chung. Cuộc kháng chiến toàn dân này muốn mau giành thắng lợi cần có sự tham gia, đóng góp của nhiều người. Người có tre, góp tre. Người có chữ, đi dạy bình dân học vụ. Người có khả năng văn nghệ, đi làm công tác tuyên truyền… Có thế, ngày độc lập mới có cơ đến được. Thì Hoàng lại thản nhiên với một giọng đinh ninh: "Tôi cứ cho rằng dù dân mình có tồi đi nữa, ông cụ xoay quanh rồi cứ độc lập như thường". Lại nữa, lời bốc đồng của Hoàng chẳng được đảm bảo bằng một hành động gì. Nghe anh ta nói thì cứ y như Hoàng đã thấy một minh chủ, một vị cứu tinh, một anh hùng cứu quốc chờ đợi đã bao thế kỷ. Để xứng với những lời to tát đó, nhẽ ra người phát biểu cần phải mau chóng vứt bỏ hết mà tìm về đầu quân, tụ nghĩa, làm một người lính chiến đấu dưới ngọn cờ đại nghĩa của cụ Hồ. Nhưng, cuối cùng chỉ là lời nói suông. Nếu cụ Hồ có thân chinh đến vận động chú Hoàng đi kháng chiến, chắc gì chú Hoàng đã đi. (Cứ cung cách ấy, Hoàng có thể mặc cả lắm chứ: đi kháng chiến có chó becgiê không? có tủ buytphê không? có chăn đệm thoang thoảng nước hoa không? có mía ướp hoa bưởi không?… thì e rằng bấy giờ cụ Hồ cũng chả đáp ứng được).

Những lời tán dương ấy cũng xuất phát từ một cái trí chưa thật sáng. Hoàng là trí thức nửa mùa khi hiểu biết chẳng đến đầu đến đũa. Có thể thấy Hoàng hiểu cuộc kháng chiến bấy giờ và cụ Hồ bằng nhỡn quan của một kẻ quá ghiền Tam Quốc. Nghĩa là hoàn toàn xa lạ, lỗi thời, lạc điệu. Dùng Tam quốc để quy chiếu thời đại mới. Đúng là ở thời Tam quốc (nói đúng hơn là cái thời được mô tả trong "Tam quốc chí" của La Quán Trung), vai trò cá nhân quyết định tất cả. Được thua cốt tại tướng. Cục diện chiến trận ăn nhau ở người đứng đầu. Có khi chỉ nhờ ba tấc lưỡi và vài cái mẹo vặt của chủ tướng có thể biến có thành không, chuyển bại thành thắng, đổi nguy thành an. Nhưng thời đại này khác rồi. Đây là thời chiến tranh nhân dân. "Toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến" kia mà. Cá nhân xuất chúng là quan trọng nhưng quần chúng mới là quyết định. Nam Cao đã được giác ngộ kỹ lưỡng về những nguyên lý đó của đường lối chiến tranh nhân dân, trường kỳ kháng chiến. Nhưng Hoàng nói thế nào? "Tôi cho rằng cuộc cách mạng tháng Tám cũng như cuộc kháng chiến hiện nay chỉ ăn vì người lãnh đạo cừ". Đinh ninh thế chẳng phải là quá lạc hậu sao?

Nhìn kỹ ta còn thấy: Hoàng không phân biệt anh hùng và gian hùng. Trong Hoàng có lẽ chỉ có một tiêu chuẩn: siêu sao. Nên cả Đờ Gôn, Hồ Chí Minh và Tào Tháo đều được tán dương nồng nhiệt. Sẽ là không ngoa, khi nói rằng: trong cảm nhận của Hoàng, Cụ Hồ cũng chỉ như một Tào Tháo thời hiện đại (đời mới), thế thôi. Không phải vô cớ mà cái Hoàng tán thưởng ồn ào nhất ở cụ Hồ là "cú Hiệp định sơ bộ ngày mồng 6 tháng 3". Nếu cụ Hồ chỉ có tài "xoay quanh" như thế không thôi thì e rằng Hoàng đã hiểu quá sai lạc phiến diện. Tài đức Hồ Chí Minh đâu chỉ có vậy. Mà nhiệt tình dành cho Tào Tháo xem ra còn ồn ào hơn cả dành cho cụ Hồ. Chả thế mà lời tán dương cụ Hồ khi đã ngừng bặt thì chẳng còn dư âm gì. Trong khi đó những dư âm cuối cùng trong tán dương của Hoàng lại thuộc về Tào Tháo. Chung quy, Hoàng đề cập đến cụ Hồ chỉ theo kiểu một người đọc đang thưởng thức một nhân vật tiểu thuyết, không hơn không kém. Rõ ràng, cả tình cảm và nhận thức của Hoàng về cụ Hồ đều thiếu trong sáng và lệch lạc. Chẳng phải anh ta là một tên "bố vấu" điển hình hay sao!

Cũng cần phải thấy thêm rằng, Nam Cao đã mô tả cả lai lịch và quá khứ của Hoàng để cắt nghĩa cho cái nhìn của anh ta. Nghĩa là lý giải Hoàng rất nhất quán và triệt để. Sở dĩ Hoàng nhìn đời như thế vì Hoàng vốn mang một bản chất như thế. Hoàng nhìn đời bằng "đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ", vì anh ta vốn là kẻ ích kỷ, vô tình. Chẳng phải thế sao! Độ đã nhớ lại cái lối sống dửng dưng trước nỗi khốn khổ cơ cực của bạn bè trong ngày đói quay đói quắt để nhởn nhơ nuôi con chó becgiê với khẩu phần ăn mỗi ngày hai lạng thịt bò. Nhớ lại cái tật đá bạn. Nhớ lại cái hành động hồi nhộn nhạo sau ngày khởi nghĩa, Hoàng đã ra tờ báo và mang cả những bạn bè ra chửi rủa. Lối sống thể hiện một bản chất, bản chất hiện ra thành cách nhìn. Rồi Hoàng nhìn đời bằng con mắt của một tên "bố vấu", vì Hoàng đúng là một kẻ chỉ đứng ngoài cuộc "không yêu cái gì, không làm việc gì, chỉ giỏi chửi đổng". Tóm lại, đôi mắt của Hoàng thiếu hẳn hai thứ: tình người và nhiệt tình cách mạng. Vì thế không hiểu được bản chất, không nhận ra cái đẹp của con người thời đại mới này. Còn Độ thì ngược lại. Không phải Độ không thấy những hạn chế của đối tượng. Nhưng Độ còn thấy được bản chất tốt đẹp ẩn náu bên trong, nhìn nhận ra vẻ đẹp thời đại. Bởi những lẽ đó mà Nam Cao đã tạo ra một tương phản gay gắt. Cùng một đối tượng là anh thanh niên vác bó tre, nhưng trong mắt Hoàng thì đó là hiện thân cho sự lố bịch của thời đại. Trái lại, trong mắt Độ, nó thực sự hiện ra như vẻ đẹp chân chính của thời đại cách mạng ấy. Nói cách khác, trong mắt Hoàng, cái đẹp lập tức biến thành cái xấu, cái lố bịch; ngược lại, trong mắt Độ, cái đẹp đã hiện ra với diện mạo, chân dung đích thực của nó. Nhờ đâu Độ có được cái nhìn như vậy? Nhờ Độ đã nhìn bằng đôi mắt vừa giàu tình người vừa giàu nhiệt tình cách mạng. Sự tương phản giữa Hoàng và Độ là tương phản giữa chính đề và phản đề. Tựa như tương phản giữa ánh sáng và bóng tối vậy.

Chưa cần nói đến những lời bình luận của Nam Cao (trong vai nhân vật Độ) thể hiện cụ thể mạch triết luận, chỉ cần nói đến tình huống truyện, kiểu nhân vật và ngôn ngữ nhân vật được cá tính hóa rất sâu sắc của Hoàng không thôi, cũng đủ cho ta thấy luận đề đôi mắt được thể hiện theo lối triết luận triệt để như thế nào. Chưa có một quan tâm thật cần thiết, sẽ đáng tiếc như thế nào.

________________________________________
Có thể thấy thêm ngôn ngữ nhân vật Hoàng ở khía cạnh giọng điệu. Một giọng điệu kiêu bạc, bề trên, thậm chí có lúc trịch thượng, xách mé. Nhưng do tính chất của bài viết này, đề cập thêm khía cạnh đó e rằng sẽ bề bộn.

(Source: Chu Văn Sơn - Trường ĐHSP Hà Nội)

Truyện ngắn "Đôi mắt" của Nam Cao



TRUYỆN NGẮN "ĐÔI MẮT" CỦA NAM CAO
Gs. Nguyễn Đăng Mạnh

Nghĩ lại những thành tựu văn học nước ta từ sau Cách mạng tháng Tám đến những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, không ai không nhớ đến truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao. Những sáng tác hồi ấy, vừa phục vụ kịp thời, vừa đứng lại được với thời gian như Đôi mắt phải nói rằng chưa có bao nhiêu.

Truyện Đôi mắt đã tạo ra một nhân vật khó quên được: văn sĩ Hoàng. Mỗi lần đọc lại tác phẩm, gặp lại nhân vật này, tôi cứ phải bật cười một mình và thầm thốt lên: Chà, cái anh chàng này, y như một người có thật mà mình đã gặp ở đâu rồi vậy!

Những nhân vật có phẩm chất nghệ thuật như vậy, thường giống nhau ở đặc điểm này: có những chi tiết có vẻ rất ngẫu nhiên, thậm chí vô nghĩa nữa, vậy mà không thể hình dung ra nhân vật ấy đúng như bản chất của nó, nếu gạt đi những chi tiết ấy. Nghĩa là rất ngẫu nhiên mà lại rất tất yếu. Có vẻ vô nghĩa đấy, nhưng không có không được.

Trong Đôi mắt, Độ lần nào đến nhà Hoàng cũng bắt gặp một con chó bécgiê. Ở Hà Nội cũng thế, ở nơi tản cư cũng vậy. Điều ấy có gì là tất yếu đâu! Ấy thế nhưng chúng ta không thể hình dung ra cái anh văn sĩ kiêm chợ đen này đúng như kiểu người và cung cách sống của anh ta nếu không có hình ảnh cái con chó giống Đức to lớn ấy. Cũng như anh ta nhất thiết phải có thân hình to béo, nặng nè, bước đi thong thả, khệnh khạng, bơi hai cánh tay ngắn ngủi kềnh kệnh ra hai bên; nhất thiết phải mặc bộ áo quần ngủ màu xanh nhạt, phủ lên ngoài một cái áo len trắng, quá chật; nhất thiết phải có một cái vành móng ngựa ria cắt xén ngăn ngắn trên mép, nhất thiết phải ngả người ra phía sau và kêu lên những tiếng lâm li trong cổ họng khi nhận ra người bạn cũ; nhất thiết phải cười cùng cục trong cổ như con gà trống…v..v..

Điều thú vị ở đây là những chi tiết kia không chỉ làm cho nhân vật trở thành cụ thể, sinh động, hay nói như các nhà lý luận văn học, không chỉ đóng vai trò cá thể hoá, cá tính hoá nhân vật. Chúng còn thể hiện một cách sâu sắc bản chất xã hội của tính cách, nghĩa là đem đến cho nó giá trị điển hình.

Phải nói rằng, bản thân việc nuôi chó bẹcgiê, cũng như cái thú nằm trong màn đọc Tam Quốc chí, cái thú ăn mía ướp hoa bưởi…v…v… bản thân nó chả có “vấn đề” gì hết. Trong những điều kiện sinh hoạt nào đó, đấy còn xem là những cái giải trí lành mạnh và rất văn hoá nữa. Nhưng đặt vào hoàn cảnh cụ thể của nhân vật Hoàng trong truyện Đôi mắt, thì những chi tiết kia quả đã bộc lộ cả một thái độ sống, hơn nữa, một bản chất chính trị của một loại trí thức trưởng giả rất khó mà hoà nhập với cuộc kháng chiến. Vì thế, không khí của cuộc kháng chiến dù có sôi nổi đến thế nào, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân dù có đổi thay dữ dội đến đâu, vẫn không mảy may tác động đến nền nếp sinh hoạt của vợ chồng anh ta. Nghĩa là vẫn cứ phải xoay được một dinh cơ riêng biệt và rộng rãi như thế, vẫn cứ nhởn nhơ sống kiểu sống an nhàn như thế. Ban ngày nếu không vì quá buồn phải tìm đến mấy ông bạn tuần phủ, đốc học về hưu nào đó để đánh tổ tôm, thì chỉ muốn đóng chặt cổng lại để khỏi bị quấy nhiễu bởi mấy ông uỷ ban hay tự vệ trong làng đến tuyên truyền kháng chiến. Còn buổi tối thì một nếp sống “thiêng liêng” không gì phá vỡ được là… chui vào chăn ấm, buông màn tuyn trắng toát, vừa hút thuốc lá thơm vừa đọc Tam Quốc chí trước khi đánh một giấc ngon lành đến sáng. Anh ta đã sống giữa cuộc kháng chiến mà hoàn toàn cách biệt với cuộc kháng chiến. Cho nên Độ bước vào nhà anh ta, dù ở nơi tản cư, mà như bước vào một thế giới xa lạ hẳn với bên ngoài, và bao nhiêu hy vọng vận động anh ta đi làm báo kháng chiến với mình bỗng chốc tan thành mây khói.

Người ta nói rằng Đôi mắt là chuyện có thật. Khi cuộc kháng chiến chống Pháp mới bùng nổ, Nam Cao công tác cho một tờ báo địa phương, quê ông. Hồi ấy ông có đi lại thăm viếng một nhà văn nào đó ở Hà Nội tản cư ra. Ai đã từng biết lối viết văn của Nam Cao hẳn thấy điều ấy chẳng có gì xa lạ. Xưa nay, viết về tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, hay viết về nông dân, địa chủ, ông vẫn thường dựa nhiều vào người thực việc thực. (Ngòi bút chân thực đến nghiêm khắc ấy không muốn trí tưởng tượng của mình tung hoành quá tự do chăng ?). Nhưng sự thực ấy đã được nhìn từ chỗ đứng nào, từ ánh sáng nào của những tư tưởng gì ? Muốn biết điều này, cần nhớ rằng Đôi mắt được viết vào mùa xuâ năm 1948 tại Việt Bắc, vài tháng sau khi Nam Cao được kết nạp vào Đảng. Đó cũng là lúc quân dân ta vừa liên tiếp ghi được những chiến công vang dội: Chợ Đồn, Chợ Rã, Bông Lau, Sông Lô v.v… bẻ gẫy cuộc tấn công đại quy mô của giặc Pháp lên Việt Bắc thu đông năm 1947. Đôi mắt được viết xen kẽ với một tác phẩm khác cũng rất đặc sắc của Nam Cao: Nhật ký ở rừng. Đọc tác phẩm này, thấy tâm trạng nhà văn lúc bấy giờ đang náo nức một niềm tin tưởng và tự hào ở cuộc kháng chiến mà ông đã thực sự góp phần vào, đồng thời dào dạt những tình cảm đầy cảm phục trước vẻ đẹp tâm hồn cao cả của đồng bào Việt Bắc mà ông lần đầu được tiếp xúc. Ông ghi vào nhật ký ngày 3-11-1947: “Gần gũi những người Dao đói rách và dốt nát, thấy họ rất biết yêu cách mạng, làm cách mạng chân thành, sốt sắng và tận tuỵ, chúng tôi thấy tin tưởng vô cùng. So sánh họ với mấy thằng “bố vấu” mà Khang gọi là trí thức nửa mùa, Khang rất bất bình đối với hạng này. Chúng nó chẳng yêu một cái gì, chẳng làm một cái gì. Chúng nó chỉ tài chửi đổng.” (Ở rừng – Nam Cao, tác phẩm, tập II, 1977)

Hoàng là một trong những thằng “bố vấu”, có “tài chửi đổng” ấy chăng? Anh ta chẳng làm cái gì hết, trong khi mọi người nỗ lực tham gia kháng chiến. Ích kỷ đại hạng, nhưng động mở miệng là chửi thiên hạ ngu dốt, bần tiệtn – Mà sao những người như thế lại chúa là hay nhân danh đạo đức, nhân nghĩa ? Này đây, hãy nghe người vợ Hoàng phụ hoạ với những nhận xét của chồng về sự mà chị ta gọi là “thiếu tình nghĩa của người dân quê”: “Họ làm chính chúng tôi cũng đâm lo. Có thể nói rằng trong một trăm người thì chín mươi chín người cho rằng Tây không đời nào dám đánh mình. Mãi đến lúc có lệnh tản cư tôi vẫn cho là mình tản cư để doạ nó thôi. Thế rồi, đùng một cái, đánh nhau. Chúng tôi chạy được người chứ của thì chạy làm sao kịp ? May mà còn vớt vát được ít tiền, một ít hàng để ở cái trại của chúng tôi ở ngoại thành. Khéo lắm thì ăn đựơc độ một năm. Đến lúc hết tất nhiên phải khổ rồi. Chỉ sợ đến lúc ấy, họ lại mỉa lại. Thành thử bây giờ lý ra thì có muốn ăn một con gà chưa đến nỗi không mua nổi mà ăn, nhưng ăn lại sợ người ta biết, sau này người ta nói cho thì nhục. Họ tàn nhẫn lắm cơ bác ạ!”

Tôi chắc, khi ôn lại trong tâm trí mình câu nói ấy, Nam Cao đến lộn ruột lên được. Nhưng giọng kể chuyện cứ thản nhiên như không. Ấy, bản lĩnh của ngòi bút Nam Cao là thế: anh nén chặt tình cảm của mình lại để người đọc tự tìm ra ý nghĩa mà càng thêm phẫn nộ - phẫn nộ mà cứ phải bật cười - trước một thái độ hết sức ích kỷ mà cứ nhơn nhơn và ngọt xớt như không.

Nhà văn Tô Hoài còn gọi Đôi mắt là một thứ tuyên ngôn nghệ thuật chung của lớp nghệ sĩ các anh hồi ấy.

Cứ như cái tên của nó thì tác phẩm muốn nói vấn đề cách nhìn, vấn đề quan điểm. Điều ấy đã rõ. Nhưng nói cho chặt chẽ hơn, căn cứ vào nội dung hình tượng, thì nó trước hết là mâu thuẫn về lập trường. Một đằng coi cuộc kháng chiến là của mình và tích cực tham gia kháng chiến. Một đằng tự xem như người ngoài cuộc, từ chối không làm gì hết, dù chỉ là công tác Bình dân học vụ trong làng. Một đằng vui sướng trước cuộc đổi đời của nhân dân, và nhìn cuộc sống mới, tư thế mới và cách mạng đem đến cho nhân dân lao động là tốt đẹp. Một đằng chỉ thấy thế là lố bịch, là hài hước. Nói cho đúng, những nhận xét của Hoàng về người nông dân không phải điều sai cả. Nhưng rõ ràng là thiếu độ lượng, thiếu thiện chí – cái nhìn của một người tuy không phải hoàn toàn không có lòng yêu nước, nhưng tỏ ra chưa tán thành cách mạng và kháng chiến. Lập trường ấy quyết định cách nhìn của anh mà Nam Cao gọi là chỉ thấy có một phía “Anh trông thấy anh thanh niên đọc thuộc lòng bài “ba giai đoạn”, nhưng anh không trông thấy bó tre anh thanh niên vui vẻ vác đi để ngăn quân thù. Mà ngay trong cái việc anh thanh niên đọc thuộc lòng bài báo như một con vẹt biết nói kia, anh cũng chỉ nhìn thấy cái ngố bề ngoài của nó, mà không nhìn thấy cái nguyên cớ đẹp đẽ bên trong. Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều, càng quan sát lắm, người ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản.”

Vậy nếu gọi Đôi mắt là bản tuyên ngôn nghệ thuật, thì trước hết đó là bản tuyên ngôn về lập trường cách mạng, lập trường kháng chiến của lớp văn nghệ sĩ tiểu tư sản quyết tâm từ bỏ những quyền lợi ích kỷ của mình, từ bỏ những thói quen sinh hoạt và nếp tư duy cũ, từ bỏ cả cái nghệ thuật cho là “cao siêu” của mình ngày trước, sẵn sàng nói như nhà văn Độ, làm một “anh tuyên truyền nhãi nhép” nhưng có ích cho nhân dân, cho kháng chiến.

Đôi mắt xét ở phương diện khác, còn đặt vấn đề quan niệm về cái đẹp, về đối tượng của nghệ thuật mới nữa. Phải tìm cái đẹp ở đâu? Theo quan điểm nào? Phải thể hiện nó ra sao? Nam Cao có thể chưa ý thức đựơc đầy đủ lắm, nhưng tác phẩm tự nó đã gợi ra và bước đầu giải đáp những câu hỏi đó.

Tôi vẫn nghĩ rằng, không phải đến Đôi mắt, Nam Cao mới đặt vấn đề “đôi mắt”. Đúng là đến tác phẩm này, nhờ đã giác ngộ cách mạng, ông mới đặt được vấn đề ấy một cách hoàn toàn tự giác. Nhưng qua một số truyện ông viết từ trước Cách mạng tháng Tám, đã thấy ông luôn luôn băn khoăn day dứt về vấn đề ấy: phải biết nhìn người nông dân lao động bằng đôi mắt như thế nào mới thấy được bản chất tốt đẹp cho họ, thường ẩn giấu sau một vẻ ngoài hết sức tầm thường, thậm chí vụng về, thô lỗ nữa. Theo Nam Cao hồi ấy, đôi mắt đó phải là đôi mắt của tình thương. Trong Lão Hạc ông đã viết như thế. Ông còn lấy câu nói này để đề từ cho một truyện ngắn khác của mình: “Người chỉ xấu xa, hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ, và nước mắt là một miếng kính biến hình vũ trụ.” (Nước mắt – Nam Cao, tác phẩm, tập II) Đúng như thế, ở Nam Cao, nước mắt của tình thương là miếng kính biến hình vũ trụ. Chính nhờ có đôi mắt yêu thương ấy mà nhà văn chẳng những đã nhìn thấy tấm lòng vị tha, xả kỷ của lão Hạc…. mà còn phát hiện ra được cả chất thơ trong trẻo trong tâm hồn tưởng chừng đã hoàn toàn đen độc của Chí Phèo nữa.

Nhưng hồi ấy, tình thương của Nam Cao chỉ mới là thứ tình thương uỷ mị, tiêu cực. Qua “miếng kính” ấy, anh tuy thấy được một số đức tính của người dân nghèo, nhưng dưới ngòi bút của anh, học chỉ là những con người bé nhỏ, bất lực. Và giọng văn của anh thì như anh thường thốt lên – “Chao ôi là buồn!”. Trong Nhật ký ở rừng, Nam Cao đã tự phê phán như thế. Ở Đôi mắt, anh cũng viết như vậy: “Người nhà quê dẫu sao thì cũng còn là một cái bí mật đối với chúng ta. Tôi gần gũi họ rất nhiều. Tôi đã gần như thất vọng vì thấy họ phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhát sợ, nhịn nhục một cách đáng thương (…) Nhưng đến hồi Tổng khởi nghĩa thì tôi đã ngã ngửa người. Té ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng hăng hái lắm. Tôi đã theo họ đi đánh phủ. Tôi đã gặp họ trong mặt trận Nam Trung bộ. Vô số anh răng đen, mắt toét, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, hát Tiến quân ca như người buồn ngủ cầu kinh mà lúc ra trận thì xung phong can đảm lắm…”

Như vậy, nhờ thực sự tham gia cách mạng, sát cánh với nhân dân, Nam Cao đã có được đôi mắt mới để thấy quần chúng không chỉ là nạn nhân đáng thương của hoàn cảnh mà còn là những con người cải tạo hoàn cảnh, tức là những anh hùng. Những con người mới ấy sẽ đi vào văn học như là những nhân vật trung tâm. Đôi mắt chưa xây dựng được nhân vật ấy, nhưng đã chỉ ra phương hướng đi tìm nhân vật ấy và chừng mực nào, đã nói lên cách thể hiện nhân vật ấy: đó không phải là những con người phi thường trong trí tưởng tượng lãng mạn, mà là những con người có thật rất đỗi nhũn nhặn ở quanh ta. Những con người áo vải, răng đen, đi chân đất, gọi lựu đạn là “nựu đạn”, nhưng đã đứng dậy làm cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại và sau đó gánh cả cuộc kháng chiến lên đôi vai vững chải của mình. Phải, Đôi mắt chưa tạo ra được nhân vật ấy, nhưng đã dự báo sự xuất hiện phổ biến của nhân vật ấy trong nền văn học chúng ta.
ST

Đôi mắt - Nam Cao


ĐÔI MẮT
Nam Cao
I . ĐẶT VẤN ĐỀ

Đôi mắt là tác phẩm quan trọng nhất của Nam Cao sau cách mạng tháng Tám và cũng là tác phẩm xuất sắc nhất của Văn học Việt nam trong thời kì kháng chiến chống Pháp . Lúc đầu nhà văn đặt tên là Tiên sư thàng Tào Tháo, nhưng sau này Nam Cao đặt cho nó một cái tên giản dị hơn rất nhiều : Đôi mắt . 

Tác phẩm được viết vào mùa xuân năm 1948 . Tác phẩm nhận đường cho văn nghệ sĩ và đặt ra vấn đề cái nhìn, lập trường , quan điểm, chỗ đứng của người nghệ sĩ trong thời đại cách mạng . Như vậy tác giả đã có sự lựa chọn cân nhắc để đặt nhan đề cho tác phẩm , để qua nhan đề làm nổi bật ý nghĩa tư tưởng của truyện ngắn này . 
II . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .

Đọc Đôi mắt ta hiểu ngay vấn đề cách nhìn quần chúng và cuộc kháng chiến khác nhau giữa những người nghệ sĩ có quan điểm lập trường khác nhau, được thể hiện qua Hoàng và Độ là hai nghệ sĩ, hai nhân vật trung tâm của tác phẩm .

Trước hết ta thấy Hoàng không phải nhìn quần chúng với đôi mắt thù địch . Nhà văn này về cơ bản không phải là một kẻ phản động. Hoàng vẫn có những nét đáng trân trọng như thái độ bộc lộ thẳng thắn những suy nghĩ của mình với nhân vật Độ, lòng ngưỡng mộ chân thành với lãnh tụ một cách ngây thơ.  cũng không nên coi những chuyện Hoàng nói về người nông dân là vu cáo hay xuyên tạc. Tất cả bắt nguồn từ đôi mắt nhìn nhận thời cuộc của cá nhân nhân vật Hoàng .

Nhắc đến điều này để thấy rõ bản lĩnh nghệ thuật của Nam Cao. Ông phát hiện và miêu tả đôi mắt của Hoàng từ nhiều góc độ, không đơ giản, một chiều tạo nên sự chấp nhận dễ dãi từ phía người đọc .

Đôi mắt của Hoàng dần dần được thể hiện qua việc anh kể lần lượt những điều tai nghe mắt thấy một cách hóm hỉnh, sắc sảo . Tài quan sát, tài diến đạt hấp dẫn, cộng với năng lực hài hước hóa , lố bịch hóa những gì mình không ưa thích khiến những mẫu chuyện Hoàng kể thật sinh động .

Bằng đôi mắt của mình, Hoàng cảm nhận người nông dân tham gia kháng chiến toàn là những người vừa ngố vừa nhặng xị, hầu hết đều ngu độn, lỗ mãng, ích kỉ, tham lam bần tiện . Cha con , anh em chẳng tốt với nhau . Các ông thanh niên, các bà phụ nữ mới bây giờ lại càng nhố nhăng . Viết chữ quốc ngữ sai vần mà cứ hay nói chuyện chính trị rối nhặng cả lên . Sắc sảo, có tài quan sát, nhưng Hoàng hoàn toàn không nhìn thấy bên trong việc cảnh giác quá đáng , ham tuyên truyền cách mạng “động thấy ai đi qua là hỏi giấy”, “hay nói chuyện nói chuyện chính trị”, “đọc thuộc lòng cả bài dài 5 trang giấy” về đường lối kháng chiến “như một con vẹt biết nói kia” là bản chất yêu nước, cách mạng của họ .

Cũng xuất phát từ đôi mắt khinh bạc, thiếu thiện cảm với người nông dân nên Hoàng chẳng những chỉ nhìn thấy mặt nhược điểm đáng cười mà còn ít nhiều phóng đại, cường điệu , hài hước hóa mặt nhược điểm đó để chế nhạo, giễu cợt một cách bất nhẫn . Tác giả đã tường thuật cuộc trò chuyện giữa hai vợ chồng Hoàng với Độ như một minh chứng cho sự bất công trong cách nhìn người, nhìn đời của nhân vật Hoàng . Ở đây nhà văn không cố ý đóng cũi tình cảm của mình để người đọc tự nhận thấy kẻ đáng cười, đáng trách không phải là những người nông dân mà chính lại là vợ chồng Hoàng - những kẻ đang ra sức bêu xấu họ .

Chỉ nhìn thấy nông dân ngu dốt, ngây ngô, tất yếu Hoàng không bao giờ tin vào quần chúng nhân dân mà lực lượng chủ yếu là nông dân sẽ đưa cuộc kháng chiến đến thành công, Hoàng rất nản . Tuy vậy, anh ta lại tin vào tài năng của cụ Hồ, “cứ cho rằng dân mình có tồi đi nữa. Ông cụ xoay quanh rồi cũng cứ độc lập như thường” điều này chứng tổ bằng cách nhìn phiến diện, Hoàng đã tạo nên một sự đối lập giữa lãnh tụ và dân tộc.

Với đôi mắt nói trên còn tất yếu dẫn Hoàng đến thái độ chỉ giao thiệp với đám người “cặn bã của giới thượng lưu trí thức”, mà anh ta thừa biết toàn những kẻ “thối nát, ngu ngốc, gàn dở, rởm đời”, Hoàng chơi với họ, nhưng có ưa gì họ . Nghĩ cho cùng giữa anh và họ chính là quan hệ của những người cùng hội cùng thuyền . Bởi vậy anh chỉ có thể chơi với họ chứ không cộng tác với những người kháng chiến . Và việc anh “đóng cửa suốt ngày không giám đi đâu nữa” cũng hoàn toàn có thể giải thích bằng đôi mắt’’ nói trên.

Vốn là một nhà văn hiện thực, Nam cao rất có ý thức giải thích một cách hệ thống toàn diện dĩ nhiên bằng các chi tiêt nghệ thuật “đôi mắt” của Hoàng .
Hoàng vốn là một văn sĩ trưởng giả, nhân cách thấp kém “có cái tật hay đá bạn”, trong khi đồng nghiệp “chỉ còn một dúm xương’’ trong nạn đói năm 1945 thì “ Hoàng vẫn phong lưu” nhờ tài … chạy “ chợ đen rất tài tình” và “con chó của anh vẫn chưa phải nhịn đói bữa nào” .

Đặc biệt, khi kháng chiến bùng nổ, bao tầng lớp nhân dân đặc biệt là nông dân sẵn sàng chịu đựng gian khổ thiếu thốn, hi sinh đóng góp sức lực cho cuộc kháng chiến, thì Hoàng vẫn giữ nguyên cách sống cũ, ích kỷ, co mình lại trong vỏ ốc gia đình với những bữa ăn ngon, những món quà vặt lạ miệng, với nhà cửa khang trang với nếp sinh hoạt trưởng giả: Nuôi chó dữ, đọc truyện Tam quốc trước khi đi ngủ, hút thuốc lá thơm, nằm màn tuyn trắng toát, chăn đắp thoang thoảng nước hoa… Hoàng hoàn toàn dửng dưng trước thời cuộc, tách mình ra khỏi sự nghiệp chung của nhân dân của đất nước. ( dĩ nhiên trong hoàn cảnh bình thường, chúng ta có thể nghĩ khác về Hoàng).

Như vậy ở nhân vật này thiếu hẳn sự gắn bó với những người lao khổ ,nói rộng là thiếu sự gắn bó với nhân dân với đất nước ,thiếu cội nguồn nhân đạo cần thiết của một nhà văn . Do đó, “đôi mắt” nhìn người nông dân của Họàng trước trước sau không hiểu nổi người nhà quê, không hiểu cuộc kháng chiến là diều có thể giải thích được .

Đối lập với Hoàng là Độ . Thực ra , phân tích đôi mắt của Hoàng đã hàm chưa việc phân tích đôi mắt của Độ, vì hai nhân vật này được xây dựng để bổ sung cho nhau, làm rõ luận đề của tác phẩm . Vả lại, nhân vật Hoàng đã được miêu tả dưới đôi mắt của Độ .

Trước hết, Độ cũng không thấy ít những điểm yếu của những người nông dân : răng đen, mắt toét, phần đông dốt nát, nheo nhếch, nhác sợ, nhịn nhục một cách đáng thương … Nhưng điều quan trọng hơn, Độ nhìn thấy được nét chủ yếu trong con người họ . Đó là bản chất tốt đẹp của người nhà quê . Theo anh họ có thể làm cách mạng , mà bằng chứng hùng hồn nhấtt là lúc ra trận, giáp mặt với cái chết, chính anh cũng thấy họ xung phong can đảm lắm . Tin vào sức mạnh của nông dân, cũng có nghĩa là Độ tin vào tương lai của cuộc kháng chiến .

Sở dĩ Độ có được đôi mắt nói trên không phải chỉ vì anh đã sống ở nhà quê nhiều, mà điều quan trọng hơn là anh yêu mến và đã tự nguyện gắn bó cuộc đời mình với nông dân, với sự nghiệp chung của cả dân tộc .ngay từ ngày tổng khởi nghĩa, độ đã theo nông dân “đi đánh phủ’’. Sau cách mạng, anh “đã gặp họ trong mặt trận Nam Trung Bộ”’. Từ một nhà văn, Độ sẵn sàng làm người “tuyên truyền nhãi nhép’’ cho cách mạng, anh có thể “ngủ ngay trong nhà in đèn sách và máy chạy ầm ầm’’…

Tóm lại, bằng truyện ngắn Đôi mắt, Nam Cao đã khắc họa hai cái nhìn ( mà thực chất là hai tính cách, hai con người) khác hẳn nhau. Nhà văn biểu dương “đôi mắt’’ đúng đắn của Độ - người nghệ sĩ gắn sự nghiệp của mình với quần chúng, tích cực tham gia kháng chiến; phê phán “đôi mắt’’ chua chát chán nản của Hoàng - một kiểu trí thức ích kỷ, tách mình ra khỏi sự nghiệp chung của dân tộc. Qua đó Nam Cao khẳng định : Nhà văn trước hết phải đứng trên lập trường của người công dân có trách nhiệm với cuộc kháng chiến, phải đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, kể cả văn chương nghệthuật, và có cái nhìn mới về người lao động - những con người bình thường nhưng vĩ đại. Đồng thời, nhà văn muốn viết đúng phải có “đôi mắt’’ nhìn nhận đúng; muốn nhìn nhận đúng phải có tấm lòng nhân ái.

Chính vì lẽ đó mà nhà văn Tô Hoài coi tác phẩm Đôi mắt là bản tuyên ngôn nghệ thuật của cả một lớp nhà văn cũ đi theo cách mạng . Bởi nó đề cập được đến vấn đề đôi mắt của người nghệ sĩ, của nhà văn trong kháng chiến . Đôi mắt ở đây chính là cách nhìn người, cách nhìn đời; nói khái quát hơn là vấn đề quan điểm, lập trường của người trí thức văn nghệ sĩ đối với cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc và người nông dân - lực lượng nòng cốt của cuộc kháng chiến .

Đôi mắt là một truyện ngắn nhưng đã nêu được vấn đề lớn: Vấn đề thế giới quan của người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật. Sau ngót nửa thế kỷ, đến nay, điều ấy vấn có ý nghĩa mới mẻ. 

Qua phân tích “đôi mắt’’ của Hoàng và ‘’đôi mắt’’ của Độ, chúng ta không những khâm phục chất trí tuệ sắc sảo, thâm trầm của Nam Cao, mà còn trân trọng tấm lòng gắn bó sâu nặng với nhân dân với đất nước của một nhà văn luôn phấn đấu cho những gì tốt đẹp trên đời.

III. KẾT THÚC VẤN ĐỀ .

Truyện ngắn Đôi mắt là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Nam Cao sau cách mạng tháng Tám . Đó là tác phẩm ưu tú của văn học Việt Nam thời kì đầu kháng chiến . Tác phẩm không chỉ đơn thuần phản ánh đôi mắt của cá nhân mà còn lớn hơn, khẳng định vấn đề lập trường quan điểm của văn nghệ sĩ . Điều đó đã nâng tác phẩm lên một tầm cao mới, xứng đáng là bản tuyên ngôn nghệ thuật cho cả một thế hệ nhà văn như nhận xét của Tô Hoài .

Nguồn: Sưu tầm

Tác phẩm "Một người Hà Nội" của Nguyễn Khải



NGHĨ VỀ "MỘT NGƯỜI HÀ NỘI" CỦA NGUYỄN KHẢI

Phan Huy Dung


Một người Hà Nội là truyện ngắn giàu tính triết luận, được sáng tác trong bối cảnh đổi mới văn học sau 1986. Triết luận vốn là một nét trội trong phong cách văn xuôi Nguyễn Khải thuộc giai đoạn sáng tác từ cuối những năm bảy mươi (của thế kỉ XX) trở đi, gắn liền với việc soi xét đối tượng dưới các góc độ văn hoá, lịch sử và triết học. Trước đó, sáng tác của Nguyễn Khải đầy ắp cảm hứng chính luận, chuyên đề cập các vấn đề thời sự, chính trị của đất nước và thường lấy tiêu chí chính trị, đạo đức cách mạng để bàn luận, đánh giá sự kiện, con người. Rõ ràng, sự chuyển đổi từ cảm hứng chính luận sang cảm hứng triết luận đánh dấu một bước phát triển đáng ghi nhận trong tư duy nghệ thuật của nhà văn. Hứng thú quan sát, thể hiện những vấn đề thế sự, đặc biệt là vấn đề khẳng định bản lĩnh cá nhân của con người giữa một hoàn cảnh sống mà cái "tôi" chưa được nhìn nhận công bằng, thoả đáng, tất cả đều liên quan tới việc chuyển đổi cảm hứng nói trên. Các sáng tác lúc này vẫn không thiếu tính thời sự, nhưng giá trị của chúng đã vượt ra khỏi cái khung thời sự nhất thời để gây ám ảnh lâu dài. Việc nhà văn có ý thức tô đậm kinh nghiệm, thể nghiệm của cá nhân mình trong việc trình bày mọi vấn đề đã làm cho những trang viết của ông thấm đượm tinh thần đối thoại dân chủ, thoát li dần kiểu áp đặt chân lí một chiều trước đây.

Với một sáng tác mang tính triết luận, việc xếp đặt các nhân vật được miêu tả trong đó vào các phạm trù tốt - xấu, chính diện - phản diện quen thuộc một thời đã trở nên bất cập. Sự đánh giá về nhân vật có thể rất đa chiều. Lời khen hay lời chê của tác giả (thể hiện qua nhân vật kể chuyện xưng "tôi") lúc này cũng chỉ có giá trị tham khảo thuần tuý, không hề mang tính chất "chân lí", không phải là kết luận tối hậu. Trong Một người Hà Nội ", "tôi" nhìn nhận bà Hiền là "một hạt bụi vàng", đó là quyền của "tôi". Người khác có thể có cách nhìn nhận khác, tất nhiên, không thể không tham khảo cách nhìn có tính chất gợi ý mà "tôi" đưa ra. Nếu không hiểu nguyên tắc đánh giá này, lại lấy cách xây dựng nhân vật trong truyện của Nguyễn Khải ở giai đoạn sáng tác trước làm hệ quy chiếu, độc giả rất dễ có những phán quyết vô lí về tác giả trên các vấn đề quan điểm, lập trường chính trị, hoặc ngược lại, ra sức tán dương nhân vật bà Hiền, gán cho bà những phẩm chất tốt đẹp (theo mong muốn hay tưởng tượng, suy diễn của chính độc giả) mà bản thân nhân vật "tôi" không nói tới trong câu chuyện của mình.

*
* *

Nếu căn cứ vào những gì đã được thể hiện trong truyện ngắn, độc giả có thể đặt lại tên tác phẩm Một người Hà Nội thành Nghĩ về một người Hà Nội. Dĩ nhiên, đây là đặt cho mình, nhằm mục đích lĩnh hội đúng tinh thần tác phẩm, cảm nhận đúng ý nghĩa của "thành phần" suy nghĩ trong kết cấu truyện ngắn này. Quả là chuyện kể không có gì thật đặc biệt, nhưng suy nghĩ, đánh giá của nhân vật "tôi" thì lại chứa đựng nhiều điều thú vị. Đặc trưng truyện ngắn Nguyễn Khải vốn là thế : tỉ trọng những lời phân tích, bình luận bao giờ cũng lớn, nhiều khi lấn át cả sự miêu tả, trần thuật khách quan về đối tượng.

Viết Một người Hà Nội, điều cơ bản mà nhà văn hướng đến chưa hẳn là ca ngợi một con người, cho dù người đó đáng ca ngợi bao nhiêu đi chăng nữa. Cảm hứng chính của ông là khám phá bản sắc văn hoá Hà Nội – cái quyết định vận mệnh và vị thế của Hà Nội trong lịch sử, cũng là cái làm nền tảng cho bước phát triển mới của nó trong tương lai. Không phải ngẫu nhiên mà khi ngắm hình ảnh bà Hiền "lau đánh cái bát bày thuỷ tiên", ông đã có một ghi chú tưởng như là bâng quơ : "nếu là một thiếu nữ thì phải hơn"[1], rồi cảm thán : “thấy Tết quá, Hà Nội quá, muốn ở thêm ít ngày ăn lại một cái Tết Hà Nội". Cũng hoàn toàn hợp lô gích việc nhà văn đã kết lại truyện ngắn như thế này : "Một người như cô phải chết đi thật tiếc, lại một hạt bụi vàng của Hà Nội rơi xuống chìm sâu vào lớp đất cổ. Những hạt bụi vàng lấp lánh đâu đó ở mỗi góc phố Hà Nội hãy mượn gió mà bay lên cho đất kinh kì chói sáng những ánh vàng !". Lô gích thì lô gích nhưng vẫn lạ. Ai đã từng quen với giọng văn tinh sắc, tỉnh táo, thậm chí là "lọc lõi" của Nguyễn Khải, hẳn phải ngỡ ngàng trước cái giọng "bốc" lên khá đột ngột mà nhà văn biểu lộ ở đây. Một chút giỡn đùa với chính văn mình hay niềm xúc động tận đáy tâm can cứ bật ra không nén được ? Trả lời quyết hẳn theo bề nào cũng khó, nhưng điều có thể khẳng định chắc chắn là : Nguyễn Khải thật sự yêu quý Hà Nội, có những suy nghĩ thâm trầm về "đất kinh kì" và tha thiết được thấy một Hà Nội hiện đại, đẹp, sang, xứng với bề dày văn hoá truyền thống của nó. 

Hình tượng bà Hiền được xây dựng lên như để chứng minh có một tinh thần Hà Nội, một linh hồn Hà Nội thực sự đã và đang tồn tại, để lại dấu ấn đậm nét trong những người con của nó. Bà Hiền không phải là một "tấm gương" kiểu mẫu hiểu theo nghĩa thông thường để các tổ chức xã hội nêu lên cho mọi người học tập, theo cách người ta vẫn thường làm nhằm mục đích tuyên truyền, vận động. Bà chỉ là người dân bình thường, dù xuất thân là con nhà "tư sản", dù đã có một thời "vang bóng" (mà thực ra, "tư sản" thì cũng có thể là người dân bình thường được chứ !). Tác giả (và người kể chuyện) hiểu vậy nên chọn cách giới thiệu, chuyện trò về bà thật dung dị. Bà là một người bà con xa, người dì họ của "tôi", thế thôi ! Mọi việc bà làm đều tự nhiên, như cuộc sống hàng ngày, chẳng gây chấn động gì tới xung quanh cả. Ấy vậy, ai dám bảo chất Hà Nội ở bà không đậm đặc ? Vả lại, muốn khám phá bề sâu văn hoá của một vùng đất, tuyệt đối không được bỏ qua những điều tưởng là nhỏ nhặt. Nhiều khi chính chúng lại cung cấp cứ liệu thuyết minh về vấn đề có sức nặng hơn hẳn những chuyện to tát. Dõi theo mạch kể của nhân vật "tôi", người đọc thấy quả không có gì đáng gọi là "sự kiện" việc bà Hiền lấy chồng, quản lí gia đình, sinh con, dạy con, cho con đi bộ đội, tiếp khách, bài trí nơi ở, duy trì nếp sinh hoạt riêng,... 

Một câu bình phẩm của "tôi", rằng, việc bà lấy ai không lấy, lại lấy một ông giáo cấp tiểu học hiền lành chăm chỉ làm chồng đã "khiến cả Hà Nội phải kinh ngạc", phần nhiều chỉ là một cách nói ngoa ngôn khá đặc thù của văn chương. Nếu quả người ta có kinh ngạc, thì đó là sự kinh ngạc trước một chuyện không ngờ lại xảy ra bình thường (thậm chí là tầm thường) quá như thế. Tuy vậy, nếu bình tâm suy xét, ta lại thấy trong tất cả những cái bình thường kia lại chứa đựng một triết lí sống đáng vị nể, vừa thể hiện bản lĩnh cá nhân một con người, vừa bộc lộ kiểu ứng xử đặc trưng của đất kinh kì. Bà Hiền biết rõ mình là ai (câu tuyên bố "thẳng thừng" của bà đối với nhân vật "tôi" đã chứng thực điều đó : "Một đời tao chưa từng bị ai cám dỗ, kể cả chế độ"), và cũng tương tự thế, bà hiểu sâu xa mình là người Hà Nội. Sau năm 1954, gia đình bà chẳng di cư vào Nam vì "không thể rời xa Hà Nội". Đây không đơn giản chỉ là một biểu hiện của tình yêu đối với nơi đã sinh ra và nuôi dưỡng mình, mà còn là một biểu hiện của niềm tin vào thế tồn tại bền vững của mảnh đất đã trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, có văn hoá riêng đã thấm vào máu thịt cư dân nơi này. 

Bà Hiền có thể không nghĩ một cách rành rọt như vậy, nhưng tác giả và nhân vật "tôi" – một sự hoá thân của ông – thì ý thức về điều này quá sâu sắc. Nhân vật "tôi" cũng khó lòng quên lời bà Hiền răn lũ con của anh : "Chúng mày là người Hà Nội thì cách đi đứng, nói năng phải có chuẩn, không được sống tuỳ tiện, buông tuồng". Hoá ra vậy, làm người Hà Nội vừa là một vinh dự, vừa là một trách nhiệm. Bà Hiền hẳn là luôn đau đáu về vấn đề này, chẳng thế mà dù đã ngoài bảy mươi, bà vẫn để lộ tâm sự đó của mình khi hỏi người cháu ("tôi") vừa mới từ thành phố Hồ Chí Minh ra thăm : "Anh ra Hà Nội lần này thấy phố xá thế nào, dân tình thế nào ?" Ngỡ đó chỉ là một câu hỏi xã giao thông thường mà thực chất lại gửi gắm bao nỗi niềm, bao phấp phỏng và hi vọng về tương lai của Hà Nội. 

Những điều vừa nói trên chứng minh sự gắn bó làm một, rất máu thịt, giữa bà Hiền và Hà Nội. Nhưng cốt lõi ứng xử của người Hà Nội được thể hiện qua bà Hiền là cái gì ? Khi kể về bà, nhân vật "tôi" rất hay nói đến chữ tính : "tính thế là đúng", "Mọi sự mọi việc đều được các bà tính trước cả. Và luôn tính đúng...", "đã tính là làm", "Cô tôi tính toán việc nhà việc nước đại khái là như thế", "cô muốn mở rộng sự tính toán...". Dĩ nhiên, đã "tính đúng" thì người đó là người khôn ("cô khôn hơn các bà bạn của cô"), người "có đầu óc rất thực tế", biết thích ứng. Với người "khôn", mọi điều khó mấy xem ra cũng có thể thu xếp được một cách khá nhẹ nhàng : là "tư sản" mà khi ở với chính quyền mới, gia đình bà Hiền không bị hề hấn gì, bà lại có khả năng nuôi cả gia đình đủ ăn mà không phải dính dáng gì tới hai chữ "bóc lột"... Bà Hiền có thể "cười rất tươi" – một kiểu cười quá đỗi tự tin – khi ông cháu thóc mách : "Tại sao cô không phải học tập cải tạo, cô giấu cũng tài nhỉ ?" Nói ra toàn những chuyện như thế về bà Hiền, phải chăng tác giả muốn kết luận rằng cái "bản sắc" của người Hà Nội là tính và khôn ? Sự thực hoàn toàn không phải thế. Đằng sau mỗi câu chuyện kể về bà Hiền, tác giả luôn luôn cho ta thấy sự tồn tại của một bản lĩnh sống vững vàng, một khả năng tự ý thức rất cao, một lòng tự trọng không thể nghi ngờ. 

Tự trọng ở đây gắn liền với việc không để mình rơi vào tình trạng nhục nhã, sống giữ được cốt cách và đặc biệt là không quên trách nhiệm với cộng đồng (một tinh thần trách nhiệm không cần tuyên bố ồn ào, bốc đồng, hời hợt). Những lời thổ lộ của bà Hiền xung quanh việc bằng lòng cho hai đứa con đi bộ đội thể hiện rõ điều này : "Tao đau đớn mà bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là biết tự trọng", "Tao không khuyến khích, cũng không ngăn cản, ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết chết nó", "Tao cũng muốn được sống bình đẳng với các bà mẹ khác, hoặc sống cả, hoặc chết cả, vui lẻ có hay hớm gì"... Không phải không có những ngộ nhận về tính cách người Hà Nội. Trong truyện, tác giả đã khéo tạo ra một tình huống để làm rõ vấn đề này. Trong khi nhân vật "tôi", giữa một bữa tiệc, đã "nói hơi nhiều" những ý chê trách Hà Nội trong sự so sánh nó với những vùng miền khác, thì nhân vật Dũng, con bà Hiền, mới từ chiến trường miền Nam trở về, đã kể cho mọi người nghe về phản ứng tâm lí của một người mẹ Hà Nội có con hi sinh : "Bà níu chặt lấy một cánh tay của cháu, người bà run bần bật nhưng không khóc, và bà nói run rẩy : "Nín đi con, nín đi Dũng ! Cô đã biết cả. Cô biết từ mấy tháng nay rồi". Đúng là một sự đối trọng. Câu chuyện của Dũng tự nó nói lên bao điều !

Ta đã phân tích khả năng tính của bà Hiền, một người Hà Nội. Tính không phải bao giờ cũng gắn với thói thực dụng. Nhiều khi, nó là đòi hỏi bắt buộc của một cách tồn tại giữa thời cuộc có nhiều thay đổi, xáo trộn khó lường. Bà Hiền quá nhạy cảm về vấn đề này. Bà có chính kiến, chủ kiến riêng về nhiều chuyện "vĩ mô" của nhà nước, chế độ. Khi đứa cháu nói : "Nước được độc lập vui quá cô nhỉ ?", bà đã trả lời : "Vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, phải nghĩ đến làm ăn chứ ?". Theo bà "Chính phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá, nào phải tập thể dục mỗi sáng, phải sinh hoạt văn nghệ mỗi tối, vợ chồng phải sống ra sao, trai gái phải yêu nhau như thế nào, thậm chí cả tiền công sá cho kẻ ăn người ở...". Bà cũng nhận ra có cái gì đó không phù hợp trong cách nghĩ "không thích cá nhân làm giàu" : "Chú tuy chưa già nhưng đành để ngồi chơi, các em sẽ đi làm cán bộ, tao sẽ phải nuôi một lũ ăn bám, dù họ có đủ tài để không phải sống ăn bám". Đặc biệt, bà có một quan điểm hết sức khác thường : "Xã hội lúc nào cũng phải có một giai tầng thượng lưu của nó để làm chuẩn cho mọi giá trị...". Chưa hết, bà còn phát biểu về cái huyền vi của sự sống mà càng ngày ta càng phải thừa nhận : "Thiên địa tuần hoàn, cái vào ra của tạo vật không thể lường trước được". 

Như vậy, trong cái tính của bà Hiền có chứa đựng một "tầm nhìn xa" đáng để cho nhân vật "tôi" phải thốt lên khâm phục : "Bà vẫn giỏi quá, bà khiêm tốn và rộng lượng quá. Một người như cô phải chết đi thật tiếc...". Chính tầm nhìn xa có ở bà Hiền, rộng ra là có ở nền văn hoá của đất kinh kì đã tạo nên cái mà trên kia ta đã gọi là thế tồn tại uyển chuyển và ngoan cường của Hà Nội, vượt lên trên mọi ba động của đời sống chính trị. Chi tiết bà Hiền kể cho nhân vật "tôi" nghe về sự hồi sinh sau cơn bão của cây si cổ thụ ở đền Ngọc Sơn mang ngụ ý triết lí sâu sắc. Các nhân vật trong truyện dường như chỉ "luận" về sự kiện này xoay quanh sự tiếp nối của nhiều thế hệ người Hà Nội. Kì thực, ý nghĩa của nó trong cấu trúc chỉnh thể của tác phẩm còn lớn hơn thế. Cũng cần lưu ý : nhiều quan điểm được nói ra từ miệng bà Hiền cũng là cái mà nhân vật "tôi" và tác giả tỏ ra tâm đắc. Lời trần thuật khách quan về đối tượng đã quyện chặt với lời phân tích mang theo cách đánh giá riêng của người viết. Đây quả là một nét đặc sắc của văn Nguyễn Khải – một nhà văn vẫn được nhiều người viết khác cùng thế hệ bái phục về "năng khiếu" có thể gài lồng được vào sáng tác của mình những tư tưởng riêng đầy táo bạo, không dễ phát ngôn, về đời sống.

Nói về "dân" Hà Nội, người ở nhiều vùng miền khác vẫn thường thừa nhận thanh lịch là đặc điểm nổi bật. Vậy, ở một người khôn ngoan, giỏi tính toán như bà Hiền, nét thanh lịch ấy có tồn tại không và nếu có thì nó được biểu hiện như thế nào ? Thực ra, không hề có sự đối chọi nào giữa các phẩm chất ấy trong con người bà Hiền cả. Đừng lầm về kiểu xưng hô bỗ bã của bà đối với con cháu (vốn nó biểu hiện rõ tư cách của con người quyết đoán, ý thức mình là "nội tướng" trong gia đình), mà hãy nhìn vào thực chất của vấn đề, biểu hiện qua thái độ chu tất trong nết ăn, nết mặc, trong cử chỉ lau đánh cái bát đựng hoa thuỷ tiên, trong việc duy trì một cách "bướng bỉnh" cái nền nếp sinh hoạt xa lông một thời vẫn thường bị định kiến là "tư sản". Không, trong ngày thường, một người như bà Hiền đã hoà nhập rất tốt vào cuộc sống chung, cũng "áo bông ngắn, quần thâm, đi dép hoặc đi guốc, vuông khăn len tơi tớp buộc quanh cổ hay bịt đầu". 

Nhưng bà, cũng như các bạn của mình, không vì vậy mà không được quyền sống cho mình. Họ, lúc cần, đã biết rũ bỏ "đồng phục" để hoá thân thành những con người khác, đáng để cho những kẻ yêu cái đẹp ngắm nhìn : "bà chủ xuất hiện trước như diễn viên trên sân khấu, rồi một loạt bảy tám bà tóc đã bạc hoặc nửa xanh nửa bạc, áo nhung, áo dạ, đeo ngọc đeo dây đi lại uyển chuyển". Tất cả những điều đó cũng là biểu hiện cụ thể của bản lĩnh sống – một vấn đề hết sức nghiêm túc cần được nhìn nhận thấu đáo trong hoàn cảnh sống của đất nước, của thời đại bây giờ.

Nhìn chung, bà Hiền đúng là một người Hà Nội, dù bà không thuộc "típ" điển hình quen thuộc mà văn học cách mạng một thời ưa xây dựng trong cảm hứng ngợi ca. Dĩ nhiên, bà cũng đã dành được sự ngợi ca, quý trọng rất mực của nhân vật "tôi", của tác giả, nhưng đây là sự ngợi ca, quý trọng xuất phát từ một tiêu chí đánh giá khác với trước. Cái lõi của tiêu chí đó chính là sự khẳng định bản lĩnh cá nhân của con người trong đời sống – điều sẽ khiến cho con người trong khi biết thích ứng với thời đại thì vẫn đóng góp được nhiều cho việc cải biến, cải tạo môi trường tồn tại của mình theo hướng tích cực. 

Viết về một mẫu người như bà Hiền, văn Nguyễn Khải trở nên khoái hoạt hơn bao giờ hết. Hoàn toàn có thể nói bà Hiền chính là nhân vật lí tưởng (không nhất thiết phải là nhân vật anh hùng, nhân vật phi thường) của sáng tác Nguyễn Khải giai đoạn từ khoảng 1978 trở đi (theo sự tự phân chia của chính nhà văn). Qua bà cũng như qua các nhân vật khác thuộc loại này, nhà văn đã thực sự có đóng góp cho việc dân chủ hoá hoạt động sáng tác văn học nước nhà. Các thước đo về con người, cuộc sống trở nên đa dạng hơn, và chính điều đó đã kích thích tinh thần đối thoại ở độc giả. Thì đó, nhân vật "tôi" trong tác phẩm đâu có được xây dựng như một con người nắm giữ chân lí, có quyền đưa ra lời phán quyết sau cùng về mọi sự. Anh ta đã từng hiện lên như một kẻ khôn ranh, ứng xử thiếu đàng hoàng với người cô "tư sản" (không ghi tên bà Hiền trong lí lịch cán bộ), một kẻ tự thị vô lối khi đưa ra những lời nhận xét hấp tấp về Hà Nội trong một bữa tiệc. Anh ta cũng có thể sai, cũng phải chịu lời phản biện từ chính thực tế cuộc sống. Biết nghĩ về sự "nín lặng" (không đồng nghĩa với sự chấp thuận) của người khác thì cũng đồng nghĩa với việc tự mình biết sẵn sàng nín lặng khi những "ý thức" khác cất lời. Sự hấp dẫn của văn của Nguyễn Khải ở giai đoạn sáng tác thứ hai chính được đưa tới từ đặc điểm giàu tính đối thoại dân chủ này.

Dù không có ý áp đặt cho ai về cách đánh giá một con người, cụ thể ở đây là bà Hiền, Nguyễn Khải, thông qua nhân vật "tôi", vẫn có khả năng tạo được sự tán đồng của người đọc khi ông đưa ra nhận xét : bà Hiền chính là một người Hà Nội, tuy chỉ là hạt bụi nhưng đó lại là hạt bụi vàng của đất kinh kì ! 
ST